Oden sưởi ấm ngày đông

Oden sưởi ấm ngày đông

Oden sưởi ấm ngày đông

Củ cải trắng, trứng gà, chả cá, bạch tuộc, đậu hũ,... những thức ăn ngon lành thấm đượm gia vị đầy ắp trong nồi Oden nghi ngút khói, thêm vài ly rượu sake nóng là trọn vẹn cảm giác ấm áp cho một ngày lạnh mùa đông.

Món ăn sưởi ấm ngày đông

oden

(Ảnh: PIXTA)

Oden là một trong những món ăn gia đình của người Nhật và rất được ưa chuộng vào mùa đông. Hình thức của món Oden trông khá giống những món lẩu nhưng cách chế biến lại tương tự như món hầm. Nguyên liệu cho món Oden thường thấy là củ cải trắng, trứng gà, đậu hũ, các loại chả cá, thạch Konnyaku,... và tuỳ biến phong phú theo phong vị địa phương như thêm bạch tuộc hay gân bò. 

Nước súp có vị ngon cầu kì đậm đà cũng là một trong những nét hấp dẫn của món Oden. Để nấu nước súp Oden, người ta cần phải nấu nước Dashi từ tảo bẹ và khô cá bào rồi nêm nếm với nước tương Nhật, rượu ngọt và các gia vị cần thiết khác. 

Củ cải trắng, trứng gà, chả cá, bạch tuộc, đậu hũ,... những thức ăn ngon lành đượm vị đầy ắp trong nồi Oden nghi ngút khói, thêm vài ly rượu sake nóng là trọn vẹn cảm giác ấm áp cho một ngày lạnh mùa đông.

Bắt nguồn từ món Tofu-dengaku

Tofu dengaku

Món Tofu-dengaku, đậu hũ phết tương Miso nướng (Ảnh: PIXTA)

Oden có nguồn gốc từ món Tofu-dengaku khai sinh ở Kyoto. “Dengaku” là tên gọi của một kiểu món ăn của Nhật Bản, được chế biến bằng cách phết tương Miso lên nguyên liệu rồi đem đi nướng. Nguyên liệu đầu tiên được dùng theo kiểu Dengaku chính là Tofu - đậu hũ.

Ghi chép về đậu hũ xuất hiện trong văn thư của đền Kagusa-taisha, tỉnh Nara vào thời Heian. Khi đó, đậu hũ được dùng đơn giản, cắt miếng, xiên vào que tre, nướng rồi rắc muối. Vào thời Muromachi, kỹ thuật nêm nếm và nấu nướng phát triển nhanh chóng, chày cối cũng xuất hiện đưa đến sự ra đời của tương Miso, canh Miso và Tofu-dengaku - đậu hũ phết tương Miso nướng. Đến thời Edo, Tokugawa đẩy mạnh sản xuất nước tương Shoyu và Dengaku được dùng theo cách ngâm vào nước súp vị Shoyu. Những nguyên liệu mới cũng được sử dụng bao gồm Gammodoki, Abura-age và khoai tây. Khi đó, chả cá vẫn còn là một nguyên liệu cao cấp hiếm có. Nửa sau thời đại Edo đến thời đại Meiji, Dengaku ngâm nước súp được phát triển thành Oden dùng với nước súp và củ cải trắng là một nguyên liệu phổ biến. Sau này, Oden xuất hiện thêm nhiều phiên bản hấp dẫn khác với khẩu vị và nguyên liệu đặc trưng của mỗi vùng miền.

Ngày nay, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp Oden tại các gian hàng ẩm thực đường phố hay cửa hàng tiện lợi ở Nhật Bản vào mùa đông. Các gói nguyên liệu Oden bao gồm các loại chả cá, nước súp đậm đặc cũng được bày bán trong siêu thị, rất tiện lợi!

Phong phú về nguyên liệu

Củ cải trắng 

củ cải trắng Daikon

(Ảnh: PIXTA)

Nguyên liệu được yêu thích nhất trong món Oden từ gia đình đến hàng quán. Khoanh củ cải thấm đượm vị nước súp chính là điểm quyến rũ bậc nhất của món Oden.

Chikuwa

chikuwa

(Ảnh: PIXTA)

Hỗn hợp chả cá nêm gia vị được quấn quanh ống tre trúc hoặc kim loại, đem đi hấp rồi nướng. Cá dùng để làm Chikuwa thường là cá thịt trắng. Tên “Chikuwa” nghĩa là “Nhẫn ống trúc” được đặt tên theo hình dạng Chikuwa khi cắt lát.

Đậu hũ

đậu hũ

(Ảnh: PIXTA)

Nguyên liệu thực phẩm có lịch sử lâu đời được du nhập từ Trung Quốc vào thời đại Heian. Đậu hũ dùng trong món Oden thường là đậu hũ chiên do đậu hũ chiên khó bị vỡ khi hầm.

Fukuro

túi may mắn Fukuro

(Ảnh: PIXTA)

Đậu hũ chiên gói với nhân tuỳ thích như bánh dày, đậu, nấm,... Do cảm giác thích thú khi không biết nhân bên trong là gì nên món này còn được gọi là “Fuku-bukuro”, tức “Túi may mắn”.

Gammodoki

Gammodoki

(Ảnh: PIXTA)

Đậu hũ nghiền, trộn với rau củ rồi chiên. Gammodoki từng là món ăn phổ biến trong giới tăng lữ. Ở Kansai, món này được gọi là “Hirousu” hay “Hiryuuzu”.

Konnyaku

Konnyaku

(Ảnh: PIXTA)

Một loại thức ăn làm từ củ Konjac. Có vị mằn mặn, thành phần chủ yếu là nước, thường được sử dụng làm thực phẩm ăn kiêng. Konnyaku dễ hấp thụ gia vị nên càng nấu lâu càng đậm đà.

Hanpen

Hanpen

(Ảnh: PIXTA)

Chả cá trộn với khoai mỡ trắng tạo nên cảm giác mềm mịn beo béo khi ăn. Hanpen ra đời vào thời Edo và đặc biệt được trẻ nhỏ yêu thích.

Satsuma-age

Satsuma age

(Ảnh: PIXTA)

Chả cá chiên. Màu sắc, hình dạng và hương vị khác nhau tuỳ theo vùng miền. Trong khi tên “Satsuma-age” chủ yếu được gọi ở khu vực Kanto thì Kansai gọi chả cá chiên là “Tenpura”, tỉnh Kagoshima gọi là “Tsukeage” và Okinawa gọi là “Chikiagi”.

Trứng gà

trứng gà

(Ảnh: PIXTA)

Gà được nuôi ở Nhật Bản từ thời cổ đại và trứng gà là một nguồn protein quý giá. Để trứng chín mềm, thấm gia vị cần tinh tế trong điều chỉnh nhiệt độ nấu.

Bài: Lăng Vi / kilala.vn

Current issue

KILALA vol.22

Chỉ từ 100.000 VND, bạn sẽ nhận được 6 số Kilala giao tận nhà và một trong những phần quà hấp dẫn.

KILALA vol.21 KILALA vol.21
KILALA vol.20 KILALA vol.20
KILALA vol.19 KILALA vol.19
KILALA vol.18 KILALA vol.18
KILALA vol.17 KILALA vol.17
KILALA vol.16 KILALA vol.16
KILALA vol.15 KILALA vol.15
KILALA vol.14 KILALA vol.14
KILALA vol.13 KILALA vol.13
KILALA vol.12 KILALA vol.12
Đặt báo Kilala dài hạn
go Top